Hướng dẫn ngâm rượu rắn hổ mang

Hướng dẫn ngâm rượu rắn hổ mang

Rắn hổ mang không có chân nhưng trong các loài vật, nó là loài có đốt sống dài nhất. Nó thậm chí có thể di chuyển trên mọi địa hình, từ dòng nước sâu đến ngọn cây cao. Chính tốc độ di chuyển và sự linh hoạt đáng kinh ngạc của loài rắn này đã gợi ý các thầy thuốc tới việc có thể sử dụng rắn hổ mang để điều trị hiệu quả các bệnh về xương khớp.

Rắn hổ mang tuy dễ tấn công và gây hại cho con người nhưng theo Đông Y, rượu từ rắn hổ mang là loại rượu quý cho sức khỏe chúng ta
Cách điều chế rượu rắn

Cách ghép bộ rắn để ngâm rượu

Tùy theo nguồn rắn ở từng vùng mà cách ghép bộ để ngâm rượu rắn có khác nhau. Ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung thường có cách ghép như sau:

Bộ 3: 1 con hổ mang, 1 con cạp nong, mỗi con có thể trọng khoảng 500g, 1 con rắn ráo, có thể trọng khoảng 300g.

Bộ 5: Thêm vào bộ 3 hai con rắn khác, 1 con cạp nia, 1 con hổ trâu hoặc 1 con dọc dưa, mỗi con có thể trọng khoảng 500g.

Ở Nam Bộ thường dùng bộ 3 (tam xà tửu): 1 con hổ lửa, 1 con mai gầm, 1 con hổ đất. Bộ 5 (ngũ xà tửu): thêm vào bộ 3 trên 1 con hổ bành (hổ mang) và 1 con hổ hèo (hổ trâu). Bộ 10 (thập xà tửu): từ bộ 5, thêm 5 con rắn khác: 1 con rắn lục, 1 con rắn bông súng, 1 con rắn ri cá, 1 con ri ròi, 1 con rắn bồng.

Cách chế biến rắn

Trước khi chế biến rắn, không để nọc rắn gây nguy hiểm đến tính mạng của người trực tiếp chế biến và người sử dụng, không để mất mật rắn và phải hạn chế tối đa mùi tanh. Trước hết, chọn 3 con của các loại rắn khỏe mạnh, còn mật (theo cách ghép bộ 3 của miền Bắc), vì mật rắn có ý nghĩa rất lớn trong rượu. Nhiều khi người ta đã chích lấy mật trước, vì mỗi loại rắn có vị trí túi mật tương đối ổn định so với chiều dài thân, do đó cần lưu ý vấn đề này. Rắn được mổ bỏ hết phủ tạng, mật rắn lấy riêng ngâm vào một lọ chứa ít rượu 35 – 40%. Dùng rượu rửa sạch máu rắn, sau đó ngâm rắn vào hỗn dịch gừng tươi và rượu để khử mùi tanh (500g gừng tươi, rửa sạch, giã nát, thêm 0,5 lít rượu 35 – 40%), ngâm trong 30 phút. Lấy rắn ra, để khô se là có thể tiến hành ngâm rượu được.

Ngâm rắn tươi

Cho rắn đã xử lý vào một lọ thủy tinh có dung tích thích hợp. Đổ ngập rượu 60-70%. Đậy kín lọ. Ngâm trong 3 tháng. Có thể hạ thổ để giữ cho nhiệt độ ngâm ổn định. Sau khi chiết rượu ngâm lần 1, có thể tiếp tục ngâm lần 2-3. Những lần sau chỉ cần rượu có nồng độ 35 – 40o, và thời gian ngâm cũng ít hơn, thường là 30 – 20 ngày. Có nơi tiến hành ngâm rượu rắn tới hàng năm. Gộp dịch ngâm của 3 lần lại để pha rượu.

Ngâm rắn khô

Rắn đã được chế như trên, bỏ phần đầu, nơi có hai túi nọc độc, chặt thành từng khúc dài 5-7cm, có thể tẩm thêm dịch gừng tươi, để cho se, rồi nướng trên bếp than qua một vỉ sắt cho tới màu vàng và mùi thơm. Cũng có thể sấy trong tủ sấy ở nhiệt độ khoảng trên 70oC tới khô. Cho rắn đã khô vào bình thủy tinh có dung tích thích hợp, đổ rượu 35 – 40o ngập rắn. Ngâm lần đầu 30 ngày, sau đó tiếp tục ngâm lần 2-3. Những lần sau thời gian ngâm ngắn hơn, thường là 20 – 15 ngày. Cũng có thể sau khi có rắn khô, đem giã thành bột thô, cho vào túi vải, rồi ngâm như trên.

Đồng thời với việc ngâm rượu rắn, tiến hành ngâm rượu các vị thuốc đã được chế biến: hà thủ ô đỏ, ngũ gia bì hương, thiên niên kiện, mỗi vị 80g; cẩu tích 50g; kê huyết đằng 120g; tiểu hồi, trần bì, mỗi vị 30g. Dùng rượu 35 – 40% với tỷ lệ một phần thuốc, 5 – 8 phần rượu. Số ngày ngâm có thể ít hơn ngâm rắn. Lần 1 ngâm 30 ngày, lần 2-3 ngâm từ 20 – 15 ngày. Gộp rượu thuốc của các lần ngâm lại để pha chế với rượu rắn.

Sau khi đã chuẩn bị rượu của hai phần như trên, pha chế theo tỷ lệ 1 : 1 (một phần rượu rắn, một phần rượu thuốc), hoặc 1 : 2. Đem rượu rắn rót từ từ vào rượu thuốc, vừa rót vừa dùng đũa thủy tinh quấy đều để tránh rượu bị kết tủa. Đồng thời, đem rượu các mật rắn đã được ngâm riêng từ khi chế biến trộn đều với rượu thành phẩm. Thêm 500g đường trắng, quấy đều cho tan. Thêm rượu có nồng độ 35 – 40o cho đủ 10 lít rượu thành phẩm. Rượu rắn có màu nâu thẫm, mùi thơm vị đậm hơi ngọt. Ngày dùng 2-3 lần, mỗi lần 30-50ml, uống trước bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ. Không dùng rượu rắn cho phụ nữ có thai. Tuy nhiên, không nên lạm dụng uống rượu rắn như một thứ bình ngâm rượu thủy tinh khác.

Công dụng của rượu rắn hổ mang

Rắn cung cấp nhiều bộ phận làm thuốc như: Thịt, xương, xác rắn lột (xà thoái), mật và nọc rắn. Rắn bắt về bỏ hết tạng phủ lấy xương thịt toàn thân phơi hay sấy khô để làm thuốc (hoặc bỏ xương da chỉ lấy thịt). Ngày uống 4 – 12gr dưới dạng thuốc sắc, thuốc bột hay thuốc rượu.

Thịt rắn được Đông y coi là một vị thuốc bổ có công dụng chữa những bệnh thần kinh đau nhức, tê liệt, bán thân bất toại, các cơn co giật, chữa nhọt độc, bị cảm trợn mắt miệng méo. Tính chất thịt rắn trong sách cổ Đông y là vị ngọt, mặn, tính ôn, có độc vào kinh can. Có tác dụng khử phong thấp, định kinh giảm, những người huyết hư sinh phong thì không dùng được.

Mật rắn thường dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác để chữa ho, đau lưng, nhức đầu khó chữa. Có khi ngâm với rượu để uống. Trong sách cổ ghi mật rắn có độc, dùng với liều thấp.

Trong sách cổ ghi xác rắn (xà thoái – lớp da rắn sau khi lột)tính bình, vị ngọt, mặn, không độc vào can kinh. Có tác dụng khứ phong, sát trùng, tan mộng, dùng chữa những chứng kinh nguy hiểm của trẻ em, sát trùng, trị đau cổ họng, lở ghẻ. Ngày dùng từ 6 – 12gr dưới hình thức thuốc sắc hay đốt cháy mà dùng.

Nọc rắn độc: Ở nước ta hầu như chưa khai thác nọc rắn độc làm thuốc. Nọc rắn có tác dụng ức chế sự phát triển của một số loại tế bào ung thư, hạ huyết áp trong bệnh tăng huyết áp, nhưng phổ biến nhất có loại thuốc xoa dùng chữa thấp khớp, viêm cơ.

Nọc rắn xử lý hết độc có tác dụng: Chống đông, chống hình thành huyết khối, giảm fibrinogene, độ dính của máu, độ ngưng tập của tiểu cầu.

Chú ý: Dùng thận trọng đối với các trường hợp âm hư huyết táo, huyết hư sinh phong.

Rắn hổ mang không có chân nhưng trong các loài vật, nó là loài có đốt sống dài nhất. Nó thậm chí có thể di chuyển trên mọi địa hình, từ dòng nước sâu đến ngọn cây cao. Chính tốc độ di chuyển và sự linh hoạt đáng kinh ngạc của loài rắn này đã gợi ý các thầy thuốc tới việc có thể sử dụng rắn hổ mang để điều trị hiệu quả các bệnh về xương khớp.

Tại Việt Nam, rắn hổ mang cũng là một trong những vị thuốc “danh bất hư truyền” trị các bệnh về khớp. Theo “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Giáo sư Đỗ Tất Lợi, mật rắn, nọc rắn và thịt rắn đều là những thành phần quý có tác dụng điều trị các bệnh về khớp, xương. Cụ thể, mật rắn có tính mát, vị ngọt và đắng, tác dụng thanh nhiệt giải độc, hóa đờm trấn kinh, thường dùng để chữa chứng kinh phong, thấp khớp, nhất là thấp khớp cấp. Nọc rắn có tác dụng chỉ thống (giảm đau khớp).

Thịt rắn có vị ngọt, tính ấm, có tác dụng khu phong trừ thấp, thông kinh hoạt lạc và chỉ thống, bổ can thận, mà Y học hiện đại cũng chỉ rõ: Cao rắn hổ mang là nguồn dưỡng chất dồi dào acid amin, là nguyên liệu thiết yếu để cơ thể tổng hợp các Proteoglycan giúp tăng cường chất dịch giúp giảm đau, bôi trơn, tái tạo và phục hồi sụn khớp bị tổn thương và giải quyết hiệu quả các chứng viêm.

Trong cuốn Bản Thảo Cương Mục (năm 1590) Lý Thời Trân viết: “Vị thuốc rắn hổ mang thấm sâu vào xương, trục xuất phong (gió) gây bệnh và làm giảm bớt co giật, và các bệnh liên quan đến đau khớp do phong hàn”. Cuốn “Minh họa dược liệu làm thuốc” cũng chỉ rõ: “Rắn hổ mang có tác dụng nhanh hơn đáng kể trong điều trị hội chứng phong thấp so với bất kỳ loài rắn nào khác.”

Tại Việt Nam, theo thống kê dịch tễ, có tới 60% người cao tuổi mắc các bệnh về khớp: Khoảng 50% trong số đó bị ảnh hưởng chức năng nặng nề hoặc giảm tuổi thọ; 10 – 15% bệnh nhân bị tàn phế, thậm chí tử vong do biến chứng vào tim, thận… Những con số này đang ở mức báo động và có xu hướng ngày càng gia tăng.

Theo binhthuytinhngamruou.com